Nguyên nhân thất bại của phẫu thuật rò hậu môn

Nguyên nhân thất bại của điều trị phẫu thuật bệnh rò hậu môn

PGS. TS. Bác sĩ Đỗ Đình Công
Theo tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh

PHẦN TÓM TẮT:

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ thất bại của phẫu thuật điều trị rò hậu môn do còn lỗ trong, do còn đường rò.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, hồi cứu. Bệnh nhân được chọn bao gồm: bệnh nhân đã được mổ đường rò, bệnh nhân được mổ rạch áp xe cạnh hậu môn ít nhất 1 lần, có thời gian sau mổ ngắn nhất là 04 tháng.

Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân rò hậu môn do lao, hay rò hậu môn trên bệnh nhân có ung thư hậu môn hay trực tràng. Được gọi là thất bại của phẫu thuật do còn lỗ trong khi lần sau mổ tìm thấy lỗ trong và đường rò tại sẹo mổ cũ hay gần sẹo mổ cũ của lần sau mổ trước. Được gọi là thất bại của phẫu thuật do còn đường rò khi lần mổ sau không tìm được lỗ trong, nhưng tìm được đường rò tại sẹo mổ cũ hay gần sẹo mổ cũ của lần mổ trước

Kết quả: 42 bệnh nhân được chọn vào nhóm nghiên cứu, 22 bệnh nhân.đã được mổ ít nhất 01 lần do rò hậu môn, 20 bệnh nhân đã được mổ ít nhất 01 lần do ápxe quanh hậu môn. 50% bệnh nhân tái phát do còn lỗ trong, 43% bệnh nhân tái phát do còn đường rò, 7% bệnh nhân bị tái phát xa sẹo mổ cũ.

Kết luận: Còn lỗ trong và đường rò là nguyên nhân chính làm thất bại phẫu thuật điều trị rò hậu môn.

———————-

PHẦN CHI TIẾT:

Rò hậu môn là bệnh viêm nhiễm thường gặp của vùng hậu môn trực tràng. Những báo cáo kết quả điều trị ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ tái phát thay đổi trong khoảng từ 2,2% đến 3%(1,3). Tỉ lệ mất tự chủ cơ thắt là 9,3%. Trong trường hợp áp xe cạnh hậu môn, tỉ lệ tái phát có thể lên đến 60%. Nguyên nhân chính dẫn đến điều trị thất bại của phẫu thuật trong bệnh rò hậu môn là chưa giải quyết tốt lỗ trong của đường rò hay còn tồn tại những nhánh phụ của đường rò chính. Ở Việt Nam, chưa có những nghiên cứu về những nguyên nhân thất bại trong phẫu thuật điều trị rò hậu môn. Chúng tôi muốn trả lời câu hỏi về xuất độ của những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong phẫu thuật điều trị rò hậu môn.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá nguyên nhân dẫn đến thất bại trong phẫu thuật điều trị rò hậu môn.

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu là hồi cứu, mô tả, cắt ngang. Mẫu nghiên cứu gồm bệnh nhân rò hậu môn, được mổ tại bệnh viện Nhân dân Gia định trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2004 đến tháng 8 năm 2006. Tiêu chuẩn chọn bệnh là những trường hợp rò hay áp xe quanh hậu môn đã được mổ ít nhất 1 lần. Loại ra khỏi mẫu nghiên cứu những trường hợp sau: rò hậu môn do lao, hay có liên quan đến ung thư ống hậu môn hay trực tràng.

Rò hậu môn được phân loại như sau: rò thấp qua cơ thắt, rò cao qua cơ thắt, rò trên cơ thắt, rò trong khoang liên cơ thắt, rò móng ngựa, rò chột (không có hay không tìm được lỗ trong). Nguyên nhân thất bại được xem do tồn tại hay chưa giải quyết lỗ trong của đường rò khi lần mổ sau tìm được lỗ trong và đường rò tại vùng hay ở gần vùng có sẹo mổ cũ. Nguyên nhân thất bại được xem do tồn tại hay chưa giải quyết đầy đủ các nhánh của đường rò khi lần mổ sau không tìm được lỗ trong, chỉ còn đường rò tại vùng hay ở gần vùng có sẹo mổ cũ. Sau mổ từ 3 hay 4 năm trở lên, bệnh nhân không còn triệu chứng của rò hậu môn, nay xuất hiện đường rò tại sẹo mổ cũ; được gọi là bị tái phát.

KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 1 năm 2004 đến tháng 8 năm 2006, có 105 bệnh nhân được mổ vì rò hậu môn, có 42 trường hợp được đưa vào nhóm nghiên cứu.

BÀN LUẬN
Xác định nguyên nhân dẫn đến thất bại của những lần mổ trước có thể dễ dàng trong trường hợp sau: bệnh nhân đã mổ 5; 10 năm trước, vết mổ cũ đã lành hoàn toàn, sau mổ không có triệu chứng trong nhiều năm. Thời gian gần đây mới xuất hiện lỗ rò ngoài, chảy dịch, nhất là lỗ rò ngoài lại nằm xa vết mổ cũ. Chúng tôi xếp đây là những trường hợp tái phát (1). Theo số liệu của chúng tôi xuất độ rò hậu môn tái phát là 3%. Kết quả tương tự như báo cáo của Rosa năm 2006 (4) . Vấn đề khó khăn hơn khi tình huống xảy ra gần tương tự, nghĩa là cũng được mổ từ lâu, sẹo mổ đã lành. Thời gian gần đây xuất hiện lỗ ngoài nhưng lỗ ngoài lại nằm gần hay nằm ngay tại sẹo mổ cũ. Trong trường hợp này chúng tôi cũng xếp vào nhóm rò hậu môn tái phát vì bệnh đã mổ quá lâu trước đây.
Cũng có những trường hợp bệnh nhân mới được mổ # 4 tháng hay đã được mổ nhiều năm trước, nhưng vết mổ gần như không lành, vẫn thường xuyên chảy dịch từng đợt từ lỗ ngoài nằm ngay sẹo mổ cũ. Trong trường hợp này chúng tôi xếp vào nhóm vết mổ không lành. Đây là nhóm bệnh nhân cần được khảo sát vì thuộc nhóm điều trị phẫu thuật rò hậu môn bị thất bại.
Việc xác định nguyên nhân dẫn đến thất bại của những lần mổ trước có thể dễ dàng nhưng cũng có những trường hợp hết sức khó khăn(3) .
Nếu là bệnh nhân cũ của chúng tôi, lần mổ trước không tìm được lỗ trong, vết mổ không lành; lần mổ này tìm được đường rò và lỗ trong tại ngay sẹo mổ cũ. Chúng tôi xếp vào nhóm còn lỗ trong. Hoặc bệnh nhân đã được cắt bỏ đường rò và lỗ trong ở lần mổ trước, lần mổ sau vẫn tìm thấy lỗ trong đường rò và lỗ ngoài ngay hay gần sẹo mổ cũ, chúng tôi vẫn xếp vào nhóm còn lỗ trong. Vì cho đến nay mọi người vẫn đồng ý về đặc điểm chính của bệnh lý rò hậu môn (nguyên phát) có nguồn gốc xuất phát từ viêm nhiễm của tuyến bài tiết nằm trong các xoang nơi đường lược. Số liệu của chúng tôi cho thấy xuất độ còn lỗ trong là 50%.
Tương tự, sẹo mổ cũ không lành nhưng lần mổ này không tìm được lỗ trong; chỉ có đường đường rò nằm gần sẹo mổ cũ. Bệnh nhân được xếp vào nhóm còn đường rò hay nhánh phụ của đường rò. Số liệu của chúng tôi cho thấy xuất độ còn lỗ trong là 43%.
Tóm lại, trong phẫu thuật điều trị rò hậu môn và áp xe quanh hậu môn phẫu thuật viên cần tìm và giải quyết tốt đường rò và lỗ trong để giảm xuất độ thất bại của phẫu thuật điều trị viêm nhiễm quanh quanh ống hậu môn.

KẾT LUẬN
Xuất độ còn lỗ trong là 50% và xuất độ còn sót đường rò hay nhánh phụ của đường rò là 43%. Đây là nguyên nhân chính làm thất bại phẫu thuật điều trị áp xe và rò hậu môn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bành Văn Khìu, Nguyễn Văn Huyến, Phan Hoài Trung (2001). Nghiên cứu ứng dụng điều trị bệnh rò hậu môn bằng phương pháp y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại. Y học Việt Nam, tập 262, số 8: 18-24.
2 Lương Vĩnh Linh, Nguyễn Xuân Hùng (2000). Kết quả điều trị rò hậu môn tại bệnh viện giao thông I. Y học thực hành, số 12: 47-50.
3 Lại Viễn Khách (2002). Nhận xét định luật Goodsall trong bệnh rò hậu môn. Y học TpHCM, tập 6, số 3: 138-141.
4 Rosa G. Lolli P. Piccinelli D. et all. (2006). Fistula-in-ano: anatomoclinical aspects, surgical therapy and results in 844 patients. Tech Coloproctol 10:215–221.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *